##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Abstract

The study was conducted to evaluate the morphological characteristics and reproductive performance of a H’re chicken production flock raised in Quang Ngai province. A total of 4,005 H’re chickens were monitored from 1 day of age to 20 weeks of age to assess morphological characteristics. At 20 weeks of age, a selected flock of 1,500 hens and 200 roosters were used to evaluate reproductive traits until 72 weeks of age. The results showed that newly hatched chicks exhibited diverse plumage colors, with black dorsal and yellow ventral feathers accounting for the highest proportion (79.68%). By 8 weeks of age, the proportion of black plumage ranged from 81.48 to 86.59%, and by 20 weeks, most birds exhibited the breed’s characteristic black plumage (100% in males and 99.21% in females), with predominantly slate-colored shanks and beaks. H’re chickens started laying at 20 weeks of age, reaching peak production at 33 weeks of age. The average laying rate was 18.73% during 20–72 weeks of age, with a cumulative egg production of 69.68 eggs per hen. The average egg weight was 41.24 g, and the Haugh unit reached 74, indicating good egg quality. The fertility rate was 90.8%, hatchability of fertile eggs was 81.2%, and the proportion of chicks selected for rearing was 94.9%. The findings indicated that the H’re production flock exhibited stable plumage, shank, and beak coloration. Although egg production and egg weight were relatively low, fertility, hatchability, and chick selection rates were higher compared to other indigenous chicken breeds.

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

How to Cite
Le Duc Thao & Dinh Van Dung. (2026). Some morphological characteristics and reproductive performance of H’re chicken production flock raised in Quang Ngai province. E-Journal of Agricultural Science and Technology, 10(2), 5541–5549. https://doi.org/10.46826/huaf-jasat.v10n2y2026.1384
Section
ANIMAL HUSBANDRY - VETERINARY MEDICINE - AQUACULTURE- ANIMAL SCIENCES

References

Bạch Thị Thanh Dân. (1995). Kết quả bước đầu xác định các yếu tố hình dạng, khối lượng trứng đối với tỷ lệ ấp nở của trứng ngan. Kết quả nghiên cứu khoa học-các công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.
Phạm Kim Đăng. (2021). Nghiên cứu chọn lọc dòng gà Mía có khả năng sinh trưởng cao bằng công nghệ sinh học phân tử. Báo cáo tổng kết thực hiện đề tài.
Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Huy Đạt. (2011). Một số chỉ tiêu nghiên cứu trong chăn nuôi gia cầm. Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Định, Trần Trung Thông, Nguyễn Thị Minh Tâm và Phạm Thị Bích Hường. (2016). Bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Mía. Chuyên khảo Bảo tồn và khai thác nguồn gen vật nuôi Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, tr.162-171.
Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn Khánh Toàn và Đỗ Đức Lực. (2017). Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà sáu ngón nuôi tại Lạng Sơn, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Cần Thơ, tr.130-135.
Lê Thị Thu Hiền, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thị Kim Oanh, Phạm Thùy Linh, Nguyễn Thanh Sơn và Phùng Văn Cảnh. (2015). Chọn lọc nhân thuần giống gà Đông Tảo. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 57, 31-38.
Dương Thị Phương Lan, Phạm Công Thiếu, Phạm Hải Ninh, Nguyễn Công Định, Ngô Thị Lệ Quyên và Ngụy Khắc Đức. (2021). Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Trụi lông cổ tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 121, 31-40.
Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng. (2016). Khả năng sản xuất của gà Ri và con lai (Ri-Sasso-Lương Phượng) nuôi tại An Dương, Hải Phòng. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 3, 392-399.
Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn Đồng, Vũ Chí Thiện và Nguyễn Thị Thu Hiền. (2009). Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng, sinh sản của 3 giống gà Hồ, Mía và Móng (Tiên Phong) tại trại thực nghiệm Liên Ninh. Báo cáo khoa học năm 2008; Phần di truyền - Giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi. tr. 286-295.
Nguyễn Trọng Tuyển. (2017). Nghiên cứu các đặc điểm kiểu hình, kiểu gen phục vụ cho khai thác và phát triển nguồn gen giống gà Móng Tiên Phong. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. tr. 118-122.
Lê Đức Thạo, Nguyễn Thị Mùi, Lê Đình Phùng, Nguyễn Hữu Nguyên, Nguyễn Thi Hương và Đinh Văn Dũng. (2024). Khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà H’re thế hệ 1 nuôi tại Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Chăn nuôi, 145(6), 24-32.
Trần Thanh Vân, Đỗ Thị Kim Dung, Vũ Ngọc Sơn và Nguyễn Thị Thúy Mỵ. (2015). Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống Lạc Thủy - Hòa Bình. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Chăn nuôi- Thú y toàn quốc, Trường Đại học Cần Thơ, tr.195-200.
Nguyễn Duy Vụ, Hồ Xuân Tùng và Nguyễn Thị Hương. (2016). Hoàn thiện quy trình nhân giống và chăm sóc nuôi dưỡng gà Mía trên địa bàn thành phố Hà Nội. Báo cáo tổng kết thực hiện dự án Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội 2016.
Lý Văn Vỹ, Đoàn Trọng Tuấn và Hoàng Văn Trường. (2009). Kết quả bảo tồn và phát triển giống gà Chọi Bình Định. Báo cáo kết quả nguồn gen Việt Nam, Viện Chăn nuôi. tr.151-156.
Tổng cục Thống kê. (2025). Báo cáo thống kê gia cầm Việt Nam năm 2024. Hà Nội: Tổng cục Thống kê.
Van Duy, N., Moula, N., Dang, P. K., Hiep, D. T., Doan, B. H., Ton, V. D., & Farnir, F. (2015). Ho chicken in Bac Ninh Province (Vietnam): From an indigenous chicken to local poultry breed. International Journal of Poultry Science, 14(9), 521-528. DOI: https://doi.org/10.3923/ijps.2015.521.528