##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá và so sánh hiệu quả tăng trưởng của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus), cá rô phi sông Nile (Oreochromis niloticus) và cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) trong điều kiện nuôi biofloc. Nghiên cứu thực hiện tổng 50 ngày trên ba đối tượng cá tưng ứng ba nghiệm thức nuôi trong môi trường biofloc (i) R_phi: rô phi; (ii) D_hong: diêu hồng; (iii) Đ_vuong: rô đầu vuông, với độ lặp lại ba lần/nghiệm thức. Cá ban đầu đạt khối lượng trung bình 3,5 g/con được bố trí với mật độ 200 con/m3 (50 con/bể) trong bể có thể tích 250 L. Tỷ lệ C/N =10 được duy trì bằng nguồn các-bon từ mật đường mía. Cá rô đầu vuông tăng trưởng tốt nhất khi đạt khối lượng 41,02 ± 1,90 g/con và tỷ lệ sống 94,67 ± 1,15% (p< 0,05). Các giá trị này tốt hơn so với ghi nhận ở cá rô phi (35,55 ± 2,02 g/con và 87,33 ± 2,31%) và diêu hồng (36,70 ± 2,20 g/con và 89,33 ± 2,31%). Hàm lượng glucose và protein máu cá sai khác có ý nghĩa (p < 0,05). Cả ba loài cá có phản ứng giống nhau trong điều kiện stress TAN, với ngưỡng chịu đựng 6 mg/L và 8 mg/L. Trong đó, rô đầu vuông có thể chống chịu tốt nhất, p < 0,05. Ý nghĩa thực tiễn cho thấy đây là đối tượng ưu tiên tiềm năng (rồi đến cá diêu hồng và rô phi) ương nuôi theo công nghệ biofloc.

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Cách trích dẫn
Nguyễn Ngọc Vũ Thịnh, Tôn Thất Cường, Trần Đức Minh, Nguyễn Đức Thành, Phạm Thị Ái Niệm, Trương Văn Đàn, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Văn Huy, & Nguyễn Tử Minh. (2026). Tăng trưởng và chống chịu stress ammonia của cá rô phi (Oreochromis niloticus), diêu hồng (Oreochromis sp.) và rô đầu vuông (Anabas testudineus) nuôi trong hệ thống biofloc ở điều kiện phòng thí nghiệm. Tạp Chí điện tử Khoa học Và công nghệ nông nghiệp, 10(3), 5793–5803. https://doi.org/10.46826/huaf-jasat.v10n3y2026.1356
Chuyên mục
CHĂN NUÔI - THÚ Y- THỦY SẢN - ĐỘNG VẬT

Tài liệu tham khảo

Châu Tài Tảo, Nguyễn Văn Hòa và Trần Ngọc Hải. (2021). Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm càng xanh (Macrobrachium rosebergii) nuôi theo công nghệ biofloc. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 4(125), 139–145.
Lê Minh Khôi, Nguyễn Bảo Trung, Huỳnh Trung Hiếu và Từ Thanh Dung. (2023). Ảnh hưởng của tần suất cho ăn và khả năng tăng cường hiệu quả của β–glucan và vitamin C đối với vaccine phòng bệnh Edwarsiella ictaluri lây nhiễm trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus). Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 59(2), 154–164. DOI: https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2023.075
Phan Thị Trúc và Võ Văn Chí. (2020). Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn gián đoạn đến sinh trưởng, sống sót và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792). Tạp chí Khoa học và công nghệ – Đại học Đà nẵng, 18(7), 106–109.
TCVN 9294:2012. (2021). Phân bón – xác định cacbon hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley– Black. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Trần Lê Cẩm Tú, Trần Thị Thanh Hiền, Yutaka Haga và Trần Minh Phú. (2020). Xác định tỉ lệ năng lượng (protein: lipid) tối ưu của cá điêu hồng (Oreochromis sp.) trong điều kiện nhiệt độ – độ mặn cao. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 56(1), 29–37.
Trần Thị Nắng Thu, Mai Văn Tùng, Nguyễn Công Thiết, Trịnh Đình Khuyến và Đỗ Thị Ngọc Anh. (2022). Nghiên cứu nuôi cá rô phi bằng đậu tằm (Vicia faba) tạo sản phẩm cá giòn. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 20(1), 47–55.
Trần Văn Việt (2016). Đánh giá tình hình nuôi cá điêu hồng (Oreochromis spp.) trong lồng bè ở sông Tiền vùng thượng nguồn tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 47b, 110 – 118.
AOAC. (2005). Official Methods of Analysis of AOAC International, 18th ed. (Method No. 981.10). AOAC International. Gaithersburg, Maryland 20877 – 2417, USA.
Arida Fauzana, N., Fatmawati, Biyatmoko D. & Hanafie, A. (2023). Growth performance and survival of climbing perch (Anabas testudineus Bloch) raised in conventional and bioflocs system. Asian Journal of Fisheries and Aquatic Research, 21(2), 14–37. DOI: https://doi.org/10.9734/ajfar/2023/v21i2530
Blatt, T.L.d.S., Cardoso, A.J.d.S., Watanabe, A.L., Neto, C.C.B., & Hisano, H. (2025). Environmental sustainability of nile tilapia reared in biofloc technology (bft) system: Evaluation of các-bon, nitrogen, and phosphorus dynamics and indicators of sustainability. Sustainability, 17, 5670. DOI: https://doi.org/10.3390/su17135670
Basu, N., Kennedy, C.J., & Iwama, G.K. (2003). The effects of stress on the association between hsp70 and the glucocorticoid receptor in rainbow trout. Comparative Biochemistry and Physiology, 134(3), 655–663. DOI: https://doi.org/10.1016/s1095–6433(02)00372–0
Dawood, M.A.O., Gewaily, M., & Sewilam, H. (2023). Combined effects of water salinity and ammonia exposure on the antioxidative status, serum biochemistry, and immunity of Nile tilapia (Oreochromis niloticus). Fish Physiology Biochemistry, 49(6), 1461–1477. DOI: https://doi.org/10.1007/s10695-023-01267-5
Tveteras, R., Nystoyl, R., & Jory, D. E. (2019, December 9). GOAL 2019: Global finfish production review and forecast. Responsible Seafood Advocate. Retrieved 12 December 2024, from https://www.globalseafood.org/advocate/goal-2019-global-finfish-production-review-and-forecast/,
Guo, M., Xu, Z., Zhang, H., Mei, J., & Xie, J. (2023). The Effects of Acute Exposure to Ammonia on Oxidative Stress, Hematological Parameters, Flesh Quality, and Gill Morphological Changes of the Large Yellow Croaker (Larimichthys crocea). Animals (Basel), 13(15), 2534. DOI: https://doi.org/10.3390/ani13152534
Leonard, L.L. (2000). Criteria for selecting Nile tilapia and Red tilapia for culture. Department of Fisheries and Allied Aquacultures Auburn University, Alabama 36849 USA.
Minh, N.T. (2023). Biofloc-based integrated multitrophic aquaculture - Practical application for the sustainable environmental development of the intensive shrimp industry. Ph.D. Thesis, Ghent University, Belgium.
Phan, L.P., & Nguyen, T.V. (2023). Efficiency of intensive tilapia culture in the earthen ponds applied biofloc technology (BFT), probiotics and off–flavor control methods. The Journal of Agriculture and Development, 22(3), 9–18. DOI: https:// doi.org/10.52997/jad.2.03.2023
Pinho, S. M., Lima, J. P., David, L.H., Emerenciano, M.G.C., Goddek, S., Verdegem, M.C.J., Keesman, K.J. & Portella, M.C. (2021). FLOCponics: The integration of biofloc technology with plant production. Reviews in Aquaculture, 14(2), 647–675. DOI: https://doi.org/10.1111/raq.12617.
Renuhadevi, M., Jeevagan, I. J. M. A., Ahilan, B., Rajagopalsamy, C.B. T., & Prabu, E. (2019). Tilapia – An Excellent Candidate Species for World Aquaculture: A Review. Annual Research & Review in Biology, 31(3), 1–14. DOI: https://doi.org/10.9734/arrb/2019/v31i330052.
Shawon, F.I., Islam, N., Islam, F. & Azam, H. (2025). Adaptability of Nile tilapia (Oreochromis niloticus) in biofloc systems: Effects on growth, feed efficiency, water quality, and economic viability. Journal of Aquaculture and Fish Health, 14(2), 271–283. DOI: https://doi.org/10.20473/jafh.v14i2.68674
Sudong, X., Yong, L., Wenqi, W., Mayalagu, R., Kumaravel, P.K.V. & Hua, W. (2010). Influence of dietary protein levels on growth, digestibility, digestive enzyme activity and stress tolerance in white–leg shrimp, Litopenaeus vannamei (Boone, 1931), reared in high–density tank trials. Aquaculture Research, 41, 1845–1854. DOI: https://doi.org/10.1111/j.1365-2109.2010.02585.x
Vijayaram, S., Ringø, E., Zuorro, A., van Doan, H. & Sun, Y. (2024). Beneficial roles of nutrients as immunostimulants in aquaculture: A review. Aquaculture and Fisheries, 9(5), 707–720. DOI: https://doi.org/10.1016/j.aaf.2023.02.001.